Anh Hai

 

Tôi sinh ra trong một gia đ́nh khá đông con, chừng như từ lớn chí bé có đến mười mấy anh chị em. Trong số mười mấy người ấy, hơn phân nửa qua đời từ khi c̣n tấm bé, nên cuối cùng tôi chỉ biết được tổng cộng tôi có hai anh và hai chị. Tôi là đứa con nhỏ nhất trong nhà, chẳng thế mà mẹ tôi thường ôm tôi vào ḷng và nói "giàu út ăn khó út chịu". Làm con út cũng có cái lợi, tôi không phải làm việc nhà nhiều như các anh các chị. Ngoại trừ việc cắp sách đến trường, khi về nhà tôi chỉ phải làm phụ mẹ tôi vài chuyện vặt vănh như xách nước ngoài giếng đổ vào bồn chứa cho đầy để xài dần. Ngoài ra, mẹ tôi thường bắt tôi đọc kinh sách cho bà nghe v́ mắt bà rất kém. Bên cạnh đó, tôi c̣n một nhiệm vụ khác là đi thu tiền phố những khi mẹ tôi ốm đau hay bận rộn . Thời niên thiếu của tôi cứ thế mà trôi, êm đềm, lặng lẽ.

          Sanh quá nhiều con nhưng chẳng nuôi được bao nhiêu, ba mẹ tôi rất hoang mang và không c̣n biết làm ǵ khác hơn là tin vào quyền lực vô h́nh dựa theo những lời khuyên bảo của bà con cḥm xóm. Nạn mê tín dị đoan ở Việt Nam đầu tiền bán thế kỷ hai mươi vẫn hăy c̣n rất nặng. Người ta bảo mẹ tôi rằng có lẽ những đứa con của bà mắc chứng "xấu háy", khó nuôi, hữu sanh vô dưỡng, v́ thế nên có lắm đứa chết non. Để tránh chuyện bị người khuất mày khuất mặt bắt lầm, người ta khuyên mẹ tôi thay đổi cung cách xưng hô trong nhà. Con cái không nên gọi cha mẹ bằng ba hay mẹ như b́nh thường mà phải gọi bằng những danh xưng khác. V́ thế, anh chị em tôi phải gọi mẹ là "Vú" và cha là "anh Hai". Từ ấy, v́ ba tôi là "anh Hai" cho nên anh cả tôi được gọi là "anh bé". Và chúng tôi ai nấy cũng xưng tên khi nói chuyện với ba mẹ chứ không xưng con như những gia đ́nh khác. Ngoại trừ tôi, thay v́ xưng tên th́ tôi được xưng bằng cái ngôi thứ "Út" của ḿnh. Chẳng biết cuộc cách mạng ấy đă diễn ra vào khoảng thời gian nào trong gia đ́nh tôi, nhưng từ khi tôi có trí nhớ và biết suy nghĩ th́ tôi thấy nó đă thành qui luật căn bản cho mọi người trong nhà. Măi rồi anh chị em chúng tôi cũng không thấy ngượng ngùng ǵ khi phải gọi mẹ cha bằng những danh xưng ngộ nghĩnh ấy.

          Chừng như sau khi cuộc cách mạng ấy được tiến hành th́ nhà tôi thôi không c̣n nạn "hữu sanh vô dưỡng". Có lẽ người khuất mày khuất mặt không nhận ra ai là ai để bắt nữa. Nhờ thế mà tôi đă thoát lưỡi hái tử thần, vượt qua những năm đầu tiên của kiếp con người để trở thành một thằng con ngỗ nghịch nhất nhà. Ngày xưa khi c̣n bé tôi đă không nghĩ ra được hậu quả tai hại của việc ḿnh làm, nhưng nay, cứ mỗi lần nghĩ đến là tôi ân hận vô cùng và nước mắt chỉ chực trào ra. Tội nghiệp mẹ tôi cần cù lam lũ một đời cũng chỉ v́ con.

          Khi tôi sắp vào trung học th́ ba tôi, "anh Hai", đă thôi không làm việc nữa. Theo lời mẹ tôi kể lại, ba tôi đă rời bỏ quê hương xứ Quảng xa xôi vào Sài G̣n lập nghiệp từ năm mười bốn tuổi với hai bàn tay trắng. Một người anh của ba tôi đă vào Sài G̣n trước ba tôi khá lâu và mở được một nhà may lớn ở chợ Bà Chiểu. Trong những ngày đầu ở Sài G̣n, ba tôi theo ông anh học nghề may. Bác tôi hiền, ít nói, cũng có ư muốn giúp đỡ em, nhưng vợ của bác lại rất khó tính và ích kỷ. Bà đối xử  với đứa em chồng một cách khắc nghiệt. Ba tôi đă phải làm việc quần quật từ sáng đến tối, phải lo chăm sóc mấy đứa con của bà, cho chúng ăn, giặt giũ tắm rửa cho chúng v́ bà ta rất kiêu kỳ, biếng nhác, không thích làm ǵ động móng tay. Đă thế, đôi khi bà c̣n đâm thọc với chồng rằng "Thằng em của anh hư đốn lắm, bỏ bê mấy đứa nhỏ". Thế là v́ thương con, nể vợ mà ba tôi bị ông anh đánh đập tả tơi, có khi c̣n bị xô té từ thang lầu xuống đất. Mỗi lần kể lại chuyện ấy cho anh chị em tôi nghe, tôi thấy mắt mẹ tôi c̣n long lanh một niềm oán hận. Có lẽ thế nên mẹ tôi không muốn cho chúng tôi làm thân với mấy người con của bác và sau khi bác trai mất đi, mẹ tôi hạn chế tối đa mọi sự liên lạc với gia đ́nh bác gái. Bác tôi qua đời tại nhà thương Hồng Bàng với chứng lao phổi kinh niên, có lẽ v́ lao lực và hút thuốc quá nhiều. Ở Việt Nam thời ấy, vi trùng lao c̣n là một thứ ǵ rất nguy hiểm chưa diệt được cho nên khi chôn bác tôi, người ta  phải đổ vôi xuống huyệt để làm nghẹt mũi mấy con vi trùng Koch.

          Năm mười tám tuổi, ba tôi gặp mẹ tôi. Lúc này tay nghề của ông đă cứng cát và ông  có khả năng may được hầu hết các loại y phục. Ba tôi từ giă ông anh để ra đi tự dựng cho ḿnh một đời sống mới. Bác gái trước tin ấy vừa mừng vừa tiếc. Mừng v́ cái gai trước mắt sẽ được nhổ đi. Tiếc v́ không c̣n ai để bà hành hạ. Bác tôi tuy thương em nhưrng không cho ba tôi được đồng nào v́ vợ ông ta nắm hết tài chánh trong nhà. Ba tôi đành ra đi với hai bàn tay trắng như ông đă đến với bác tôi bốn năm trước đó.

Nhờ buôn bán tảo tần mà mẹ tôi dành dụm được chút tiền. Bà dùng những đồng tiền đong đầy mồ hôi nước mắt ấy mua cho ba tôi cái bàn máy may đầu tiên. Lần hồi ba tôi mở được một tiệm may, tuy không to bằng nhà may của bác tôi, nhưng cũng đủ cho hai vợ chồng trẻ sống qua ngày. Ba năm sau, năm ba tôi hai mươi mốt tuổi, mẹ tôi sanh đứa con trai đầu ḷng mà sau này chúng tôi gọi là "anh bé" v́ chức "anh Hai" đă thuộc về ba tôi. Ở những năm ba mươi và bốn mươi, nhà tôi bị trộm cướp đến viếng thường xuyên. Chúng lấy hết tiền bạc, quần áo khách hàng đặt may, vải vóc và thậm chí c̣n tháo cả đầu máy may mang đi nữa. Thế là ba mẹ tôi lâm vào cảnh túng bẩn phải đi vay nợ v́ không có đồ để giao cho khách trong khi người ta đă đặt tiền cọc. Mỗi lần nhà bị mất trộm là mỗi lần ba tôi phải làm lại từ đầu, thê thảm hơn, không phải chỉ bắt đầu từ con số không mà là từ số âm. Nạn trộm cướp hoành hành đă để lại trong đầu mẹ tôi những ấn tượng không xóa được, v́ thế, sau này khi dựng được cơ ngơi, bà xây tường thật cao và đóng cửa gài then thật chắc. Chỉ tội cho tôi bị nhốt kín không đi đâu được ngoại trừ đi học và đi thu tiền phố. Mẹ tôi tính t́nh rất nghiêm túc, giờ giấc tiền bạc phân minh. Đi học, nếu đi một ḿnh, tôi phải về đúng giờ không th́ ăn đ̣n. Đi công tác cho bà cũng thế, phải lo về cho nhanh, la cà đâu đó th́ khi về nhà liệu mà lấy mo bó đít. Con trai mới lớn như chim non vừa mọc lông mọc cánh, lúc nào cũng mơ bầu trời rộng, lắm khi tôi mang tâm trạng của một người tù thèm không khí tự do. Lúc ấy tôi nào biết đâu mẹ tôi khó khăn chẳng qua là v́ bà muốn cho các con nên người hữu dụng.

Nhà tôi gần trường đua ngựa. Thấy nhiều ông chủ ngựa may mắn cứ thắng độ hoài, hơn nữa v́ muốn kiếm tiền nhanh để trả cho xong các món nợ sanh ra từ những lần mất trộm, ba tôi đi mua ngựa về nuôi. Nuôi ngựa nào phải dễ đâu. Ban đêm hàng xóm không ngủ được v́ bầy ngựa ngứa chân cứ dậm mấy gót chân sắt của chúng xuống sàn ầm ĩ. Thế là bà con lối xóm kéo đến mắng vốn. Mẹ tôi bực ḿnh muốn bán quách mấy con ngựa đi nhưng ba tôi v́ mến tay mến chân cho nên không nỡ. Ông bèn may những bao vải thật dầy bọc chân chúng lại để khi chúng dậm chân không c̣n nghe cồm cộp. Chừng như mấy con ngựa cũng biết thân biết phận cho nên sau đó chúng  trở nên ngoan ngoăn hơn và không làm phiền hàng xóm nữa.

Bầy ngựa không giúp được ǵ cho ba tôi v́ ông thua nhiều hơn thắng. Sức chịu đựng của mẹ tôi lại có giới hạn, cuối cùng, bà nhất định buộc ba tôi phải bán quách chúng đi. Ba tôi tuy c̣n thương mấy con tuấn mă lắm nhưng đành ch́u mẹ tôi để không khí trong gia đ́nh được êm dịu. Nhưng cũng từ đó sự xung khắc giữa ba mẹ tôi mỗi ngày một hiện rơ. Những cuộc căi vă bắt đầu diễn ra nhiều hơn và lần nào th́ ba tôi cũng lặng lẽ xách xe đi đâu đó đến chạng vạng mới về.

Ở những năm cuối của thập niên năm mươi, gia đ́nh tôi bấy giờ đă khấm khá hơn và mẹ tôi bắt đầu xúc tiến việc xây nhà cho mướn. Bà kiên tŕ, cần cù dựng lên hết căn nhà này đến căn nhà khác và những căn nhà ấy đă là nguồn sống của cả gia đ́nh tôi cho đến ngày Sài G̣n thất thủ. Vào những năm đầu của thập niên sáu mươi, khi đă có một số nhà căn bản đủ bảo đảm cho đời sống gia đ́nh, ba tôi thôi không c̣n nhận may đồ cho khách nữa. Từ ấy ông chỉ c̣n thú vui chở tôi đi học, xong ra quán anh Dứng gần nhà uống xây chừng và đánh cờ chờ đến lúc tan trường để đi đón tôi về. Cuối tuần ba tôi chở tôi đi học chữ Nho và đạo Khổng ở Khổng miếu trong Thảo Cầm Viên để tôi tập làm quân tử tàu. Tuổi ba tôi lúc ấy khoảng bằng tuổi tôi hiện giờ, có khác chăng là ở vào cái tuổi "dưỡng già" của ông, tôi vẫn c̣n đi làm và làm không thua ǵ khi tôi ở tuổi ba mươi.

Khi tôi lên trung học, ba tôi vẫn tiếp tục đưa rước tôi đi học. Mẹ tôi v́ quá lo cho con nên không muốn tôi đi học một ḿnh lỡ có điều ǵ không hay. Nhưng khi lên lớp đệ tứ là tôi bắt đầu biết mắc cỡ khi thấy đám bạn cùng trang lứa đứa nào cũng đi một ḿnh cả. Tôi nói với ba mẹ tôi về nỗi băn khoăn của ḿnh và từ đó thỉnh thoảng tôi được đi một ḿnh đến trường. Ba tôi v́ thế lại càng trở nên rảnh rỗi hơn và có hôm ông la cà cả ngày ngoài quán đánh hết bàn cờ này sang bàn cờ khác.

Thời gian này tôi bắt đầu tập tành viết văn. Truyện ngắn đầu tay của tôi được đăng trên một tờ báo lớn ở Sài G̣n. Đă vui khi thấy tác phẩm của ḿnh xuất hiện trên mặt báo, tôi càng vui hơn khi được lănh ba trăm đồng tiền nhuận bút. Lần đầu trong đời tự tay làm ra tiền nhờ vào chút tài mọn, tôi hănh diện vô cùng. Sau khi mua cho ba tôi một trăm gờ-ram cà phê hăo hạng và vài gói thuốc thơm, tôi rủ thằng bạn thân nhất cúp cua đi làm một chầu thoải mái. Tôi cảm thấy ḿnh như vừa lớn lên vượt bực và ṿng tường khép kín bên ngoài khuôn viên hai căn nhà của ba mẹ tôi càng làm tôi thêm khó thở.

Từ ngày dọn về đây, ba và mẹ tôi mỗi người ở trong một căn nhà. Hai căn nhà nằm sát bên nhau bao quanh bởi một bức tường khá cao có lót miểng chai bên trên và cánh cổng khá dầy. Tôi và ba tôi chiếm ngự một căn, c̣n mẹ và chị tôi ở căn bên cạnh. Có những buổi chiều sau khi cơm nước xong xuôi, mạnh ai rút về nhà nấy, ba tôi thường tâm sự với tôi về nỗi nhớ quê hương miền Trung xa tít tắp của ông. Ba tôi nói ông muốn về thăm lại xứ Quảng nơi ông đă bỏ đi khi  vừa lên mười bốn tuổi. Ông muốn về Điện Bàn t́m lại mồ mă ông bà. Ông muốn về lại ḍng sông Thu của tuổi ấu thơ, để được xuôi thuyền ra Câu Lâu, phố Hội. Ông muốn về Phong Thử, Vĩnh Điện, Tam Kỳ để t́m người thân năm cũ. Tôi bồi hồi nh́n ông và hỏi: "Vậy sao anh Hai không đi?" Tuy nói thế nhưng tôi rất sợ ba tôi ra đi v́ tôi không muốn xa ông. Ba tôi bùi ngùi nh́n tôi: "Nếu anh Hai đi không chừng anh Hai ở ngoài đó luôn, không về đây nữa. Như vậy th́ tội nghiệp cho út lắm, út c̣n nhỏ quá, anh Hai không đành ḷng". Và cứ thế, ba tôi xác ở phương này nhưng hồn cứ vật vờ bay về xứ Quảng ngoài kia. Tôi không c̣n biết nói ǵ hơn là chỉ mong cho ḿnh chóng lớn để ba tôi được tṛn mộng ước.

Bấy giờ chiến trường miền Nam bắt đầu trở nên khốc liệt. Khói lửa Tết Mậu Thân chưa tắt hẳn, giặc đă tấn công đợt thứ nh́ vào Sài G̣n - Chợ Lớn. Ngay trong lúc dầu sôi lửa bỏng ấy, đứa cháu nội đầu tiên của ba mẹ tôi mở mắt chào đời. Anh tôi v́ đóng quân quá xa, hơn nữa, đời lính chiến sống nay chết mai làm sao cưu mang vợ con nên đành giao đứa nhỏ về cho ba mẹ tôi nuôi. Ba tôi mừng lắm v́ thằng nhỏ đă làm ông bận rộn suốt ngày nên không c̣n th́ giờ nghĩ ngợi xa xôi nữa. Ba mẹ tôi chăm chút đứa cháu đích tôn một cách tận t́nh. Thằng bé rất bụ bẫm, mặt mày sáng láng, đĩnh ngộ. Mẹ tôi thường đùa với cháu bằng câu ca dao:

"Tuổi Thân con khỉ ở rừng,

Chuyền qua chuyền lại chuyền ùm xuống sông".

Thằng bé chẳng hiểu mô tê ǵ nhưng thấy người lớn nh́n thẳng vào mặt nó mà cười nên cũng cười theo. Từ ngày có nó, nhà tôi vui nhộn hẳn lên, và tôi cũng được thăng cấp, không c̣n "Út" nữa mà là "chú Út". Một hôm ba tôi chơi với cháu, ông nựng đôi má bầu bĩnh của nó và nói: "Ông nội nuôi con đến ba tuổi thôi nghe!" Mẹ tôi ngồi gần đó, giựt ḿnh: "Ông này nói ǵ kỳ cục vậy?" Ba tôi cười bẽn lẽn, xuề x̣a: "Nói chơi vậy mà, không có ǵ đâu!". Mẹ tôi không nói ǵ nhưng mặt bà thoáng nét đăm chiêu.

Rồi thời gian trôi. Thằng cháu kêu tôi bằng chú đă sống trong ṿng tay yêu thương của ông bà nội được một năm. Cuộc sống trong nhà vẫn vậy, b́nh yên, không biến động. Một lần như lệ thường, sau bữa cơm chiều hai cha con cùng ngồi với nhau. Ông lại nhắc đến giấc mơ hồi hương, nhưng lần này ông chỉ nói lướt qua. Rồi ông hỏi tôi việc học hành. Mười một giờ đêm hai cha con chia tay, ai về giường nấy. Tôi ngủ trên bộ ván gơ nhỏ ở buồng trong, c̣n ông ngủ trên bộ ván lớn pḥng ngoài. Một đêm như mọi đêm lặng lờ trôi đến.

Tôi không bao giờ nghĩ và tin được đêm ấy là đêm cuối cùng trong đời của ba tôi. Ba giờ sáng, khi tôi giật ḿnh thức giấc, khêu ngọn đèn lu, th́ thấy xác ba tôi nằm sóng soài một góc. Ông đă ngă xuống từ lúc nào không biết. Lôi kéo măi chẳng lay chuyển được ǵ, tôi biết là ông đă chết. Ông đă ra đi, ra đi thật đột ngột, bất ngờ. Tôi dụi mắt măi cố không tin đó là sự thật. Nhưng không c̣n ǵ để trông mong nữa, ba tôi đă đi, đi khỏi cuộc đời này. Sau những phút bàng hoàng đầu tiên, ḷng tôi bỗng trở nên trống vắng, hoang lạnh vô cùng. Tôi nhớ có người đă nói "mất cha như mất cả bầu trời". Tôi, con chim non từ đây thôi không c̣n mảnh trời xanh ngày xưa nữa. Tôi lung lay, xiêu đổ khi điểm tựa chắc nhất của cuộc đời đă mất.

Rồi mẹ tôi mang ba tôi đi chôn. Sau đám tang, căn nhà hai cha con cùng nương náu bỗng trở nên trống trải và lạnh lẽo đến kinh người. Tôi không dám nh́n lên tấm di ảnh của ba tôi trên bàn thờ v́ ánh mắt u buồn của ông làm ḷng tôi se thắt. Tôi ra vào thui thủi một ḿnh, buồn như con chó ốm. Thời gian không lâu sau đó, tôi bỏ nhà ra đi.

***

Rồi tôi lại trở về, không phải tự nguyện mà là bị bắt về. Về để sống những ngày chán ngán trong nỗi cô đơn cùng cực. Về như con chim gảy cánh tiếc nuối hoài mảnh trời xanh thẫm ngoài kia. Thằng cháu kêu tôi bằng chú bây giờ đă biết đi, biết nói. Nó mang niềm  vui và hy vọng đến cho mẹ tôi v́ nó là người duy nhất cho mẹ tôi một t́nh yêu tuyệt đối, vô điều kiện. Hai bà cháu hủ hỉ qua ngày tháng và cũng nhờ thằng nhóc mà mẹ tôi cũng chẳng buồn nhớ đến cái ngỗ nghịch của tôi.

Bỗng dưng một hôm, thằng bé lên cơn sốt. Trong ṿng không đầy một tiếng đồng hồ, thân nhiệt của nó lên đến bốn mươi độ bách phân. Mẹ tôi vội vă gọi xích lô máy chở nó đến bệnh viện. Nhưng không c̣n kịp nữa, thằng bé đă chết trên tay mẹ tôi. Mẹ tôi bấy giờ không c̣n nỗi đau khổ nào hơn. Từ khi tôi hiện hữu trong đời, đă ba lần mẹ tôi nh́n người thân ra đi. Lần đầu năm 1963 khi anh cả tôi - anh bé - bị Việt Cộng xử tử. Bọn sát nhân của cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đă rượt theo nả đạn vào người anh tôi cho đến khi anh gục xuống. Sau đó, chúng ghim lên ngực anh một bản án. Oan nghiệt và trớ trêu thay, bản án cho biết người mà chúng thật sự muốn giết không phải là anh. Anh chỉ là một người quân nhân Cộng Ḥa b́nh thường như bao người quân nhân khác. Việt Cộng lầm anh với ông xă trưởng, người mà chúng cho là "có nợ máu với nhân dân". Anh ngă xuống đúng vào ngày thứ sáu mười ba, ngày mà người Tây phương cho là vô cùng xui xẻo.

Lần thứ hai là lần mà ba tôi - anh Hai - nằm xuống. Ba tôi từ bỏ cuộc đời khi tuổi chỉ mới năm mươi lăm. Và lần thứ ba, lần này, thằng cháu kêu tôi bằng chú. Nó chết đi vừa đúng ba tuổi, ba tuổi ta. Con số ba nhắc mẹ tôi nhớ đến lời ba tôi nói hai năm về trước. 

***

          Mỗi năm cứ đến ngày oan nghiệt ấy, tôi lại bùi ngùi nhớ đến cái chết quá tức tưởi và bất ngờ của ba tôi. Không ai biết ông chết v́ lư do ǵ v́ Việt Nam thời ấy làm ǵ có chuyện khảo nghiệm tử thi. Cho măi đến bây giờ, hơn ba chục năm sau, tôi vẫn không biết tại sao. Ông ra đi quá đột ngột không để lại cho chúng tôi một lời trăn trối. Ông như chiếc lá chưa vàng đă vội rụng rơi. Bên thân xác lạnh như đồng của ông tôi ngỡ ḿnh đang trong cơn mộng dữ. Ba tôi ra đi khi ước vọng chưa tṛn. Ông những muốn trở về vùng đất ngày xưa, về với  tháng ngày êm đềm tuổi nhỏ, t́m lại kỷ niệm buổi thiếu thời, để được thả thuyền bồng bềnh trên ḍng sông Thu, sông Hàn, để được sống những ngày cuối đời trên quê hương xứ Quảng. Ba tôi mất đi ngay khi miền Nam đang hồi loạn lạc, chiến tranh mỗi ngày một leo thang. Ba năm sau ngày ông mất, tôi t́nh nguyện vào lính, và ba năm sau ngày tôi vào lính, Sài G̣n thất thủ.

          Miền Nam sụp đổ cuốn theo những ước vọng đầu đời của tôi. Tôi biết sẽ không c̣n có dịp mang hài cốt ba tôi về nơi chôn nhau cắt rốn của ông để ông được nằm bên cạnh những người thân yêu ruột thịt. Giấc mơ của cha hoài hoài cũng chỉ là mơ và ước vọng của con chắc rồi cũng chỉ là hư vọng. Ba năm sau ngày miền Nam bị nhuộm đỏ, tôi lái thuyền vượt biển.

          Bây giờ ngồi đây bâng khuâng nhớ lại ba tôi, "anh Hai", tôi bồi hồi không biết liệu đời tôi sẽ ra sao nếu ba tôi c̣n sống? Tôi nghĩ giá mà đêm ấy tôi thức giấc sớm hơn, không chừng tôi đă cứu được ba tôi. Chẳng lẽ số phần ba tôi chỉ có bấy nhiêu thôi? Phương này, nơi tôi đang ở, lắm người tuổi ngoài chín mươi vẫn c̣n khỏe mạnh. Nếu ba tôi c̣n sống đến ngày hôm nay, ông vẫn trẻ hơn các cụ ấy. Nếu ba tôi c̣n, có lẽ tôi đă không bỏ nhà ra đi, có lẽ tôi vẫn c̣n ngày ngày cắp sách đến trường. Có lẽ tôi đă không đâm đầu vào lính. Có lẽ tôi đă nên hơn. Nhưng không, lưỡi hái ác nghiệt của tử thần đă cướp mất ba tôi, bắt ông  đi ngay vào lúc mà tôi cần ông nhất.

          Hơn ba mươi năm đă qua nhưng h́nh ảnh cuối cùng của ba tôi vẫn c̣n hằn sâu trong trí nhớ của tôi. Tôi nghĩ về ông trong niềm tiếc thương vô hạn. Tôi nghĩ về ông và giấc mơ của một đời người. Giấc mơ của cha bây giờ cũng là giấc mơ của con. Sống trên nước người, tôi vẫn hằng mong sẽ có một ngày Việt Nam đổi đời để tôi được về lại quê hương dưới bóng cờ tự do nhân ái. Ngày xưa chỉ xa xứ Quảng chưa đến ngàn cây số mà ba tôi c̣n không về được, huống hồ ǵ nay tôi xa quê hương nửa quả địa cầu! Tôi đang bước dần vào lứa-tuổi-cuối-đời của ba tôi. Cuộc trăm năm Trời đă cho tôi được phân nửa, biết c̣n lại bao nhiêu? Chuyến đi quá đột ngột của ba tôi đă lưu lại trong ḷng tôi một dấu ấn rất sâu để bây giờ mỗi đêm khi chia tay cùng con tôi rồi ai về pḥng nấy, tôi không biết liệu ḿnh có c̣n sống để gặp lại con buổi sáng ngày sau đó.¨

 VĨNH DU

( cựu học sinh Mạc Đĩnh Chi )