VINH DANH

THẦY

PHẠM THẾ MỸ

 

Thắm thoát đã hơn ba mươi năm kể từ ngày người viết bài này được ngồi nghe tim mình đập nhanh theo từng tiếng hát uất nghẹn của thầy Phạm Thế Mỹ khi thầy dồn hết tâm tư diễn đạt một cách xuất thần nhạc phẩm "Huế của ta" mà thầy vừa sáng tác. Ngày ấy giặc vừa bị đẩy lui khỏi cố đô Huế và nhiều thành phố miền Nam, thất bại ê chề với cái gọi là chiến dịch "tổng tiến công và nổi dậy" mùa xuân Mậu Thân.

Hơn ba mươi năm đã qua. Đàn chim non ngày nào e ấp dưới mái trường Mạc Đĩnh Chi thân thương ấy bây giờ đã và đang bước dần vào cái tuổi năm mươi. Ba mươi năm - đã đến lúc đàn chim thiên di quay đầu nhìn lại khoảng trời xanh mà chúng đã vỡ trứng, mọc cánh, mọc lông. Nhìn lại với những bâng khuâng và tiếc nuối mênh mông. Khoảng trời xanh ấy, khung trời huyền nhiệm ấy, nay đã không còn. Một loài chim dữ đã tràn đến hung hăng chiếm ngự. Từ ấy, phố nhuộm hồng, trời đã hết màu xanh, và đàn chim tội nghiệp kia đã không còn tổ ấm. Gần như chúng đã mất, mất tất cả. Tuổi thơ hồn nhiên và tiếng hót ríu rít như của loài sáo sậu đã mất. Những ánh mắt đen lay láy không vướng bụi đời đã biến dạng. Chỉ còn lại là ngờ vực, âu lo, ưu phiền, kinh hãi. Chỉ còn lại bầu trời xám sậm và mây dày đặc một màu đen. Rồi thì đàn chim tả tơi ấy bay đi, bay đi với những giọt lệ thảm thương rơi nhạt nhòa trong màn mưa lạnh. Bay đi trong hoảng hốt tột cùng, mắt đen láy thơ ngây láo liên thất thần tội nghiệp. Bay đến một phương trời xa lạ, Úc, Phi, Mỹ, Á, Âu. Đàn chim tội tình ấy đã mất hết, không còn gì nữa.

Nhưng may thay có một thứ chúng vẫn còn. Kỷ niệm và những ngày xưa thân ái, như tên một bài hát của thầy Phạm Thế Mỹ. " Những ngày xưa thân ái, anh để lại cho ai..."

Người viết bài này thực sự may mắn được là học trò của thầy Phạm Thế Mỹ, một nhạc sĩ, một giáo sư âm nhạc tài ba, khả kính. Hơn ba mươi năm qua đi nhưng hình bóng và âm hưởng của thầy vẫn hằn sâu trong tâm tưởng. Còn nhớ Thầy ngồi trên chiếc bàn học trò ấy, dồn hết tâm tình, mắt rưng rưng , môi rung rung theo những lời hát trong bài "Huế của ta", một bài hát như được kết tụ bởi màu xám của óc, màu trắng của xương, và màu đỏ của máu. Giọng Thầy có lúc chìm xuống, trầm hùng " lửa Đông Ba lửa cháy Vân Lâu, lửa cửa Tây ra tới cửa Đông, lửa nội thành lan ra đường pho " rồi vút cao lên trong kinh hoàng đớn đau cùng cực, " Huế ơi!". Tiếng hát khởi đi từ con tim uất nghẹn, uất nghẹn trước những gảy đổ, điêu tàn nát vụn của chiến tranh. Uất nghẹn như đang bị bàn tay kẻ thù siết chặt. Uất nghẹn khi thấy Đại Nội đẫm đầy máu lệ, thấy Đông Ba ngụt lửa, thấy Trường Tiền gục xuống bàng hoàng trên dòng Hương mờ thẫm. Uất nghẹn trước những bạo tàn sắt máu của người đồng loại, những người con của mẹ Việt Nam đến từ bên kia bờ vĩ tuyến. Và tiếng hát của thầy tiếp tục cất lên qua mắt lệ long lanh :"Cầu Trường Tiền đau thương gục xuống, hàng vạn người bơ vơ không nhà, hàng vạn người bơ vơ đường phố, Huế ơi...!"

Tiếng hát của Thầy đã dứt nhưng Thầy vẫn ngồi đó, bất động. Cả lớp cũng gần như chết lặng. Mắt Thầy vẫn đăm đăm nhìn vào một cõi mênh mông. Chừng như trước mặt Thầy vẫn lãng vãng là những núi Ngự, dòng Hương, Đại Nội, Vân Lâu, Trường Tiền, Thừa Phủ. Chừng như trong mắt Thầy vẫn còn là những màu xám xịt của đất đá vụn vỡ, màu đỏ quạch của những bãi máu khô, màu trắng của áo trắng học trò . Và màu trắng trập trùng của ngàn dãi khăn sô.

Hơn ba mươi năm đã qua nhưng hình ảnh đó chưa phai mờ trong tâm trí tôi. Hơn ba mươi năm đã qua nhưng âm hưởng bản nhạc "Huế của ta" của thày Phạm Thế Mỹ vẫn còn trầm lắng trong một góc tim tôi. Hơn bao giờ hết, tôi thấy mình vô cùng may mắn được làm học trò của Thầy dước mái trường Mạc Đĩnh Chi thân thương ấy. Nhờ Thầy mà tôi thấy đời lưu vong còn chút gì đáng yêu bởi tôi vẫn còn Những ngày xưa thân ái. Nhờ Thầy mà tôi vẫn còn thấy ánh Trăng tàn trên hè phố một đêm nào trong quá khứ thật xa khi nay đi trên phố lạ dưới ánh sáng vàng vọt của vầng trăng viễn xứ. Bây giờ những khi nghe lại Trăng tàn trên hè phố tôi còn thấy lung linh sắc màu kỷ niệm và bộ mặt đáng yêu của những tên bạn buổi thiếu thời. Nghe Trăng tàn trên hè phố để nhớ lại phút bạn bè gắn bó bên nhau, để nuối tiếc một thuở hoàng kim nay không còn nữa. Nghe Trăng tàn trên hè phố để hình dung ra dãy phố cuối chân cầu trong một đêm trăng khi phố phường đã chìm sâu trong giấc ngủ vẫn có những tên bạn chí thân xa cách lâu ngày gặp lại nhau cùng ngồi dưới mái hiên nhìn trăng và trò chuyện thâu đêm, "kể nhau nghe chuyện cũ bao ngày qua..." Còn gì rung động và chân thành hơn những lời nhạc của Thầy: "... Nhớ gì từ ngày anh xa mái trường... Nhớ gì từ ngày anh vui lên đường, lối gầy về nhà anh hoa phượng thắm, màu xanh áo người thương, nắng chiều đẹp quê hương, hay nhạc buồn đêm sương..." Người viết bài này tin rằng thầy Phạm Thế Mỹ không chỉ là một nhạc sĩ tài ba mà còn là một thi nhân với tấm lòng nhân hậu mà câu văn lời thơ là những nhịp đập thoi thóp của một con tim luôn rung theo âm điệu của tình yêu, quê hương và cuộc sống. Bên cạnh đó, thầy còn là một người Việt Nam yêu nước nhiệt tình. Tình yêu quê hương nồng nàn của Thầy đã được thể hiện bằng lời ca tha thiết qua những bản "Hoa vẫn nở trên đường quê hương", "Đường về hai thôn", "Người về thành pho " , " Bóng mát"... Còn nữa, những người con Việt Nam hiếu thảo không ai có thể quên được dòng nhạc đầy ắp tâm tình hiến dâng lên Mẹ của Thầy qua nhạc phẩm "Bông hồng cài áo", một trong những tác phẩm để đời.

Cách đây vài năm, nghe nói Thầy bệnh nặng, tim tôi như se thắt. Nhưng bẳng đi sau một thời gian không nghe tin gì khác hơn, tôi tạm yên tâm rằng có lẽ Thầy đã bình phục. Đám học trò của Thầy trước 1975 nay đều đã trên dưới năm mươi và phần lớn đều có một cuộc sống tương đối ổn định, nhất là những người nơi hải ngoại. Con cái họ nhiều đứa đã trưởng thành, có người tốt nghiệp bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, kỷ sư, góp phần làm vẻ vang dân Việt. Cuộc đời như chiếc bánh xe sắp quay hết một vòng và đang bắt đầu trở lại khơi diểm. Đàn chim non Mạc Đĩnh Chi của ba mươi năm về trước nay đã bắt đầu thấy trong hồn dậy lên hình ảnh mái trường, thầy cô, bạn bè thời niên thiếu. Họ như những con thuyền lênh đênh mấy chục năm qua giờ dang hướng về con sông xưa, bờ bến cũ. Họ thấy việc tìm đến với nhau như một nhu cầu bức thiết, thôi thúc, giục giã. Những trang liên mạng cựu học sinh Mạc Đĩnh Chi nối tiếp nhau xuất hiện trên không gian điện tử. Rồi đến các hội, các đoàn, các nhóm, các club. Lòng tôi nao nao, bồn chồn, bâng khuâng khi thấy bạn bè đồng môn rộn rã với niềm vui của giây phút tương phùng cho dẫu rằng bản thân mình từ hơn hai mươi năm qua chưa một lần thấy lại mái trường xưa. Tôi càng xao xuyến hơn khi nghĩ về những người đã có công dạy dỗ mình như cô Túy Hồng, thầy Phạm Thế Mỹ, thầy Nguyễn Tường Vân, thầy Trần Thanh Dũng, thầy Nguyễn Vũ Hải, thầy Phạm Quang Huyến...Nhiều thầy cô may mắn đã đến được bến bờ tự do, nhưng cũng có nhiều thầy cô kém may mắn hơn đã phải ở lại với đói nghèo, khốn khó, bất hạnh. Cầu mong sao ánh sáng tự do nhân vị lại trở về với Việt Nam, quê hương sớm được phú cường, nhân quyền được tuyệt đối tôn trọng, nhân phẩm được nâng cao để mọi người, nhất là các thầy các cô còn ở lại, được sống vui trong cảnh thái hòa.

Trong phạm vi hạn hẹp của bài này, người viết không thể nào ghi hết được những cao siêu diễm tuyệt của thầy Phạm Thế Mỹ. Hơn nữa, nói về thiên tài âm nhạc của Thầy thì ngàn lời vẫn thiếu và một chữ vẫn thừa. Với tư cách của một người học trò cũ, tôi chỉ xin được kính cẩn thưa với Thầy rằng, Thầy ơi, ngày nào còn thở là một ngày em còn nghe và hát nhạc của Thầy với tấm lòng ưu ái vô biên.

 

 KHÁCH LY HƯƠNG

Virginia, tháng 7 năm 2001